Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới – WIPO

75
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO

Giới thiệu chung về WIPO

Website chính thức: www.wipo.int

Nguồn gốc

Nguồn gốc của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã được bắt đầu từ năm 1883 và 1886 khi Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và Công ước Bern về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được thông qua. Nhưng phải đến ngày 14/7/1967, Công ước chính thức thành lập WIPO mới được ký kết tại Stockholm. Năm 1974 WIPO trở thành một trong 16 tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc, có trụ sở đóng tại Giơ-ne-vơ, với mục tiêu thúc đẩy hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới thông qua sự phối hợp giữa các nước thành viên.

Tiền thân của WIPO là BIRPI, một tổ chức được thành lập năm 1893, là sự kết hợp giữa 02 Văn phòng quốc tế quản lý 02 điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ thời điểm đó là Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp và Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Khi Công ước Stockholm có hiệu lực vào năm 1970, BIRPI chính thức chuyển thành WIPO. Năm 1974, WIPO tham gia vào hệ thống các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc. Trải qua chiều dài lịch sử hơn 120 năm, hiện nay WIPO có 189 nước thành viên và 250 quan sát viên là các tổ chức phi chính phủ, liên chính phủ.

Thành viên của WIPO

Công ước thành lập WIPO tuyên bố quyền tham gia sẽ được dành cho mọi quốc gia là thành viên LHQ-tức là chỉ có quốc gia mới có thể trở thành thành viên WIPO. Quốc gia muốn gia nhập gửi Đơn xin gia nhập tới TGĐ WIPO tại Giơ-ne-vơ. Riêng các nước thành viên Công ước Paris và Công ước Bern chỉ có thể trở thành thành viên WIPO nếu họ đã ký kết/phê chuẩn hoặc gia nhập ít nhất là các điều khoản hành chính của Văn kiện Stockholm (1967) của Công ước Paris hoặc văn kiện Paris (1971) của Công ước Bern. Tính tới đầu năm nay, 2010, WIPO có 184 nước thành viên.

Sứ mệnh và hoạt động

WIPO hoạt động nhằm thúc đẩy bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới thông qua sự hợp tác hiệu quả giữa các quốc gia thành viên và hợp tác với các tổ chức khác nhằm xây dựng một hệ thống sở hữu trí tuệ quốc tế cân bằng, hiệu quả và dễ tiếp cận, để thưởng cho các hoạt động sáng tạo, thúc đẩy đổi mới và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, trong khi vẫn bảo đảm được lợi ích của toàn thể cộng đồng.

WIPO được xem như một diễn đàn toàn cầu về các dịch vụ, chính sách, thông tin và hợp tác về sở hữu trí tuệ, cụ thể:

  • WIPO cung cấp các dịch vụ về đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ trên phạm vi quốc tế, giúp các nhà khoa học, sáng chế tiết kiệm được thời gian, chi phí;
  • WIPO xây dựng hệ thống các cơ quan điều hành, ủy ban chuyên môn, tạo điều kiện cho các nước thành viên và quan sát viên có thể trao đổi, thảo luận nhằm tìm ra giải pháp đối với những thách thức của hệ thống sở hữu trí tuệ thế giới, đảm bảo mục đích cơ bản là khuyến khích đổi mới, sáng tạo;
  • WIPO cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu dồi dào, phong phú về thông tin sở hữu trí tuệ, phục vụ nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu của mọi đối tượng;
  • WIPO có những hoạt động hợp tác đa dạng với các nước thành viên, các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ, nhằm mục đích hỗ trợ, thúc đẩy bảo hộ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời giải quyết những vấn đề chung của thế giới.

Cơ cấu tổ chức

Về cơ cấu, theo Công ước thành lập WIPO, tổ chức này gồm 4 cơ quan chính là Đại hội đồng, Hội nghị, Ủy ban điều phối, Văn phòng Quốc tế (Ban thư ký).

  • Đại hội đồng (ĐHĐ) là cơ quan quyền lực cao nhất của WIPO. ĐHĐ bổ nhiệm TGĐ trên cơ sở đề nghị của UB điều phối. ĐHĐ họp một lần/năm (thường vào cuối tháng 9 hàng năm) xem xét và thông qua các Báo cáo của UB điều phối, của TGĐ WIPO, thông qua ngân sách tài chính của tổ chức, thông qua các biện pháp do TGĐ đề ra vv…
  • Trong trong thời gian họp Đại hội đồng WIPO, theo thông lệ, sẽ diễn ra song song các Hội nghị, cuộc họp thường kỳ của các nước tham gia các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ do WIPO quản lý (thường gọi là cuộc họp của Hiệp hội như Hiệp hội Paris, Hiệp hội Berne, Hiệp hội Madrid vv…).
  • Ủy ban Điều phối điều hành, quản lý hoạt động của WIPO, trong đó có vấn đề tổ chức nhân sự.
  • Văn phòng Quốc tế (Ban thư ký), đứng đầu là Tổng Giám đốc (TGĐ) hiện nay là ông Francis Gurry, quốc tịch Úc nhiệm kỳ 2008-2014. Giúp việc TGĐ là các Phó TGĐ và Ban thư ký. Ban Thư ký bao gồm các nhân viên được WIPO tuyển chọn trên cơ sở chuyên môn có tính tới yếu tố hợp lý địa lý.

Hiện nay, Tổng Giám đốc của WIPO là Tiến sỹ Francis Gurry, quốc tịch Ôxtrâylia, một chuyên gia giàu kinh nghiệm về sở hữu trí tuệ, sở hữu nhiều bằng cấp về luật và sở hữu trí tuệ, từng làm luật sư sở hữu trí tuệ trước khi làm việc tại WIPO trong hơn 30 năm qua. Ông Francis Gurry được bầu làm Tổng giám đốc WIPO từ năm 2008 và tái đắc cử vào tháng 5/2014. Từ khi nhậm chức Tổng giám đốc, ông đã có những quyết sách mới liên quan đến việc cải tổ nội bộ WIPO, quan hệ hợp tác giữa WIPO và các Thành viên.

Một số nét về sở hữu trí tuệ (SHTT)

Sở hữu trí tuệ có hai mảng chính là Sở hữu công nghiệp và Quyền tác giả, đồng thời mới đây có thêm Hiệp hội bảo vệ giống cây trồng (UPOV). Hoạt động của WIPO rất phong phú, đa dạng. Ngoài Công ước thành lập, WIPO còn quản lý 22 Điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ, trong đó có 16 Điều ước về Sở hữu công nghiệp và 6 Điều ước về Quyền tác giả. Ví dụ: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật; Thoả ước Madrid về chống xuất sứ sai nguồn gốc hàng hoá; Hiệp định hợp tác về bằng sáng chế v.v…

Trên trường quốc tế, vị trí của WIPO đã có những thay đổi lớn so với khi mới thành lập: ngoài việc duy trì chức năng quản lý các Điều ước/Hiệp định được ký kết giữa các quốc gia, WIPO đẩy mạnh việc hợp tác liên chính phủ trong quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ, song song với việc mở rộng và đa dạng hóa các loại hình hoạt động. Một ví dụ nổi bật là sự gia tăng các hoạt động đăng ký vào các Hiệp ước: Bằng Sáng chế (PCT), Thỏa ước Mađrit và Nghị định thư về Đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Hiệp ước LaHay về đăng ký quốc tế Kiểu dáng Công nghiệp vv. WIPO cũng không dừng ở việc thúc đẩy các đối tượng bảo hộ SHTT, mà đang ngày càng tham gia vào việc giúp đỡ các nước đang phát triển trong việc soạn thảo xây dựng và thực thi pháp luật, trong việc thiết lập cơ cấu hành chính và thiết chế phù hợp, và trong việc giúp đào tạo nguồn nhân lực.

Ngày nay, WIPO thực hiện việc tiếp cận toàn cầu không chỉ đối với vấn đề SHTT, mà cả với vai trò SHTT trong khuôn khổ rộng lớn hơn với các vấn đề mới nổi như nguồn gen, tri thức truyền thông, văn hóa dân gian, đa dạng sinh học, bảo hộ sáng chế, bảo hộ quyền tác giả, phát triển kinh tế, sức khỏe cộng đồng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường. WIPO góp phần nâng cao đáng kể sự hiểu biết của nhân dân về sơ hữu trí tuệ, về nhu cầu cổ vũ và bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Lịch sử hợp tác giữa Việt Nam và WIPO

Việt Nam gia nhập WIPO vào năm 1976. Kể từ khi gia nhập, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ quý báu của WIPO trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, đào tạo nguồn nhân lực và tuyên truyền nâng cao nhận thức của công chúng về sở hữu trí tuệ. Có thể khẳng định WIPO là đối tác đầu tiên và quan trọng nhất trong hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Trao đổi các đoàn cấp cao

– Về phía WIPO:

  • Tháng 12 năm 1986, Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc WIPO lần đầu tiên đến thăm Việt Nam, mở ra triển vọng hợp tác sâu rộng giữa ta và WIPO.
  • Tháng 01 năm 2010, Tổng Giám đốc WIPO – Tiến sỹ Francis Gurry trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình đã thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Bộ Khoa học và Công nghệ, và đã có buổi tiếp kiến Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  • Tháng 11/2011, Phó Tổng Giám đốc WIPO – ông Geoffrey Oneyama đã sang thăm và làm việc tại Việt Nam.
  • Từ 21-23/3/2017, Tổng Giám đốc WIPO Francis Gurry đã sang thăm và làm việc tại Hà Nội theo lời mời của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh. Trong khuôn khổ chuyến thăm, ông Francis Gurry đã có buổi chào xã giao Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện.

– Về phía Việt Nam:

  • Từ năm 2009 – 2016, Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đều đã tham dự Phiên họp Đại hội đồng WIPO và có buổi làm việc với Tổng giám đốc WIPO – Tiến sỹ Francis Gurry.

Sự tham gia vào tổ chức, hoạt động của WIPO và định chế quốc tế do WIPO quản lý

Hàng năm, Việt Nam đều cử đại diện tham dự các phiên họp thường trực của các Cơ quan điều hành của WIPO (Governing bodies) như Đại hội đồng WIPO, Ủy ban Điều phối WIPO (CoCo), hay các Ủy ban thường trực (Permanent committees) như Ủy ban Chương trình và Ngân sách (PBC), Ủy ban Phát triển và Sở hữu trí tuệ (CDIP)…

Năm 2014, lần đầu tiên Việt Nam đã được bầu giữ chức Chủ tịch Ủy ban CoCo, và được ghi nhận đã đóng góp giúp giải quyết một số vấn đề quan trọng về hành chính, nhân sự của Tổ chức. Vừa qua, sau khi kết thúc chuyến thăm Việt Nam vào tháng 3/2017, Tổng Giám đốc WIPO có đưa ra đề xuất Việt Nam cân nhắc giới thiệu Đại sứ Dương Chí Dũng, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Geneva, Thụy Sỹ, ứng cử vào vị trí Chủ tịch Đại hội đồng WIPO nhiệm kỳ 2018-2019. Bộ Khoa học và Công nghệ ủng hộ đề xuất của WIPO và đã có công văn trả lời Bộ Ngoại giao về vấn đề này.

Về công tác định chế quốc tế, tính đến nay, Việt Nam đang là thành viên của 10 điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ do WIPO quản lý. Hiện tại, Việt Nam đang tiến hành thủ tục nội bộ để tham gia Thỏa ước Lahay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp.

Hợp tác kỹ thuật

Hàng năm, WIPO đều triển khai nhiều hoạt động hợp tác kỹ thuật dành cho Việt Nam theo hướng xây dựng chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, nâng cao năng lực và hiện đại hóa hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ, phát triển tài sản trí tuệ, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ. Một số hoạt động hợp tác kỹ thuật nổi bật trong thời gian gần đây cụ thể như sau:

Xây dựng chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ

Trong khuôn khổ chuyến thăm Việt Nam của Tổng Giám đốc WIPO vào tháng 3/2017, Bộ Khoa học và Công nghệ và WIPO đã ký kết Bản Ghi nhớ hợp tác về việc xây dựng Chiến lược quốc gia về sở hữu trí tuệ cho Việt Nam. Hiện nay, với sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế của WIPO, Ban soạn thảo Chiến lược, bao gồm nhiều chuyên gia trong nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đang xây dựng dự thảo Bản Chiến lược, và dự kiến sẽ trình Thủ tướng Chính phủ trong Quý IV năm 2017

WIPO đã và đang tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc tìm hiểu, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế do WIPO quản lý như Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu, Thỏa ước Lahay về đăng ký quốc tế đối với kiểu dáng công nghiệp.

Nâng cao năng lực và hiện đại hóa hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ

  • Hỗ trợ triển khai Dự án “Số hóa tư liệu sáng chế” nhằm chuyển toàn bộ tư liệu sáng chế từ dạng giấy thành cơ sở dữ liệu điện tử, tạo thuận lợi cho việc tra cứu và sử dụng của công chúng;
  • Giới thiệu, hỗ trợ trong việc xây dựng, ứng dụng các giải pháp về công nghệ thông tin cũng như hỗ trợ việc truy cập và sử dụng các cơ sở dữ liệu do WIPO xây dựng nhằm phục vụ công tác tra cứu, xử lý và quản trị đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.

Phát triển tài sản trí tuệ

  • Xây dựng mạng lưới các Trung tâm hỗ trợ công nghệ và đổi mới (TISCs), với mục đích đào tạo kỹ năng khai thác thông tin sáng chế, tiếp cận với các nguồn thông tin sáng chế;
  • Hiện nay, Việt Nam cũng đang hợp tác với WIPO trong việc triển khai Dự án “Cải thiện môi trường sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao năng lực của các nước đang phát triển và kém phát triển trong phát triển, quản lý và thương mại hóa công nghệ”. Dự án sẽ hỗ trợ hình thành mô hình kết nối, vận hành theo cơ chế “HUB and SPOKE” (Trục xoay và Nan hoa) lấy vai trò trung tâm của cơ quan sở hữu trí tuệ (vai trò như trục xoay) và các viện nghiên cứu, trường đại học (vai trò như nan hoa) tạo thành mạng lưới xoay quanh trục này, sẽ tạo động lực cho hoạt động đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh các hoạt động đăng ký và thương mại hóa tài sản trí tuệ, đặc biệt là sáng chế, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Đào tạo nguồn nhân lực

WIPO là đối tác lớn nhất của Việt Nam trong công tác đào tạo nguồn nhân lực về sở hữu trí tuệ. Cho đến nay, đã có khoảng 500 lượt cán bộ của Việt Nam có cơ hội tham dự các hội nghị, hội thảo, chương trình đào tạo về các lĩnh vực khác nhau của sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực liên quan khác do WIPO tổ chức. Đây là nguồn nhân lực quan trọng đối với việc xây dựng và triển khai hệ thống sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, một số lượng lớn người Việt Nam đã tham gia các chương trình đào tạp trực tuyến về sở hữu trí tuệ do WIPO tổ chức. Hiện tại, WIPO cũng đang hỗ trợ Việt Nam triển khai Chương trình đào tạo trực tuyến về sở hữu trí tuệ bằng tiếng Việt.

Nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ

Hỗ trợ dịch các ấn phẩm tuyên truyền về sở hữu trí tuệ, tổ chức các Cuộc thi Sáng chế nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sở hữu trí tuệ;

Hằng năm trao giải thưởng WIPO cho các công trình khoa học – kỹ thuật xuất sắc theo đề nghị từ Quỹ VIFOTEC; và nhiều hoạt động khác.