Tô tử: Cây thuốc hỗ trợ tiêu đờm, giảm ho hiệu quả

15
Cây tô tử

Mô tả cây tô tử

Giới thiệu: Cây nhỏ, cao 0,5 – 1m. Lá mọc đối, mép khía răng, mặt dưới tím tía, có khi hai mặt đều tía. Hoa nhỏ màu trắng mọc thành xim co ở đầu cành. Quả bế, hình cầu. Toàn cây có tinh dầu thơm và có lông. Loài tía tô mép lá quăn (Perilla ocymoides L. var. bicolorlaciniata) có giá trị sử dụng cao hơn.

mô ta cây thuốc tô tửTính vị: Vị cay tính ôn

Quy kinh: Phế, Đại tràng.

Tác dụng: Chỉ khái bình suyễn, lợi tiểu tiêu phù.

Chủ trị: Các chứng đàm diên thịnh, khí nghịch ho suyễn, trường táo tiện bí (tiêu bón do đại trường táo).

Liều dùng: 5 – 10g.

Chú ý: Tô tử sao dược tính hòa hoãn hơn. Chích Tô tử tác dụng nhuận phế tốt.

Những điều cần biết về cây thuốc tô tử

những điều cần biết về cây tô tử

Bộ phận dùng làm thuốc

Dùng lá (Tô diệp), cành (Tô ngạnh), hạt (Tô tử) của cây Tía tô (Perillafrutescens L. Britton)

Thành phần hóa học:

Tía tô chứa 0,3-0,5% tinh dầu (theo trọng lượng khô), citral 20%. Thành phần tinh dầu chủ yếu là perillaldehyd, L-perrilla alcohol, limonen, α-pinen, hydrocumin, còn có elsholtziaceton, β-cargophylen, bergamoten và linalool perillaldehyd.

Hạt chứa nước 6,3%, protein 23,12%, dầu béo 45,07%, N 10,28%, tro 4,64%, acid nicotinic 3,98 mg/100 g. Thành phần dầu béo của hạt gồm acid béo chưa no 3,5-7,6%, oleic 3,9-13,8%, linoleic 33,6-59,4%, acid linolenic 23,3-49% (một số mẫu dầu còn chứa trên 70% acid linolenic).

Tác dụng dược lý

+ Nước sắc và cồn chiết xuất lá tía tô đều có tác dụng giãn mạch ngoài da, kích thích tiết mồ hôi.

+ Làm giảm chất xuất tiết của phế quản, làm giảm co thắt cơ trơn của phế quản. Có tác dụng cầm máu.

+ Chất tinh dầu làm tăng đường huyết. Aldehyt tía tô chống thối và ức chế trung khu thần kinh.

+ Nước ngâm kiệt lá tía tô có tác dụng ức chế các loại vi trùng như: Tụ cầu khuẩn, trực khuẩn lî, trực khuẩn đại tràng.

+ Hỗ trợ điều trị bướu cổ, tuyến giáp

Hầu hết các loại bệnh liên quan đến tuyến giáp đều là lành tính, tuy nhiên một số bướu lại biến chứng thành u ác tính (ung thư), ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người bệnh. Đến lúc này, bệnh nhân sẽ phải điều trị bằng thuốc Tây y hoặc chỉ định mổ đối với những khối bướu lành tính nhưng phát triển quá to và khối bướu ác tính. Sau khi mổ, sức khỏe của người bệnh sẽ bị giảm sút đáng kể, nên phải sử dụng thêm thuốc Tây để hỗ trợ. Thế nhưng, thuốc Tây y thường có rất nhiều tác dụng phụ như: tim đập nhanh, chảy mồ hôi, mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn,…